Ngày đưa:  29/12/2015 10:21:33 AM
Phương pháp luận đánh giá tính dễ bị tổn thương của công trình đối với biến đổi khí hậu
Trích: Báo cáo Kỹ thuật về nguy cơ khí hậu và thích ứng trong ngành năng lượng, Dự án TA 7779

 1. Đánh giá tính dễ bị tổn thương

Đánh giá tính dễ bị tổn thương bao gồm phân tích các mối đe dọa khí hậu theo dự báo đối với mạng lưới năng lượng tương lai theo các lát cắt thời gian đích đã xác định. Việc đánh giá sẽ xác định mức độ hứng chịu của các hợp phần chính trong hệ thống và độ nhạy cảm tương đối của chúng nhằm xác định mức nguy cơ và tính dễ bị tổn thương liên quan.
Tính dễ bị tổn thương là tích số của mức độ hứng chịu và độ nhạy cảm của công trình đối với biến đổi khí hậu, và năng lực thích ứng của hệ thống. Nó sẽ được đánh giá theo ma trận đánh giá tính dễ bị tổn thương định tính. Sau đây là các tiêu chí này (xem Carew-Reid và nnk, 2011 về thông tin bối cảnh liên quan về các định nghĩa này):
Mức độ hứng chịu được định nghĩa là mức độ áp lực khí hậu gây ra đối với một công trình hoặc hợp phần cụ thể của hệ thống; nó chịu ảnh hưởng của những biến đổi lâu dài của điều kiện khí hậu, và của những biến đổi của tính biến thiên khí hậu, bao gồm cường độ và tần suất các hiện tượng cực đoan. Cụ thể hơn, đó là việc đánh giá:
  • Tần suất/thời gian: ví dụ như số giờ hoặc số ngày ngập lụt
  • Vị trí: ví dụ khoảng cách đến nơi ngập lụt
  • Cường độ: độ lớn của lượng mưa, tốc độ lũ
  • Dung lượng hoặc Lưu lượng: ví dụ như quy mô hiện tượng
  • Phương diện: ví dụ như hướng đối với mối đe dọa
Độ nhạy cảm là mức độ mà một hệ thống bị tác động hoặc phản ứng lại khi hứng chịu biến đổi khí hậu. Cụ thể, sẽ đánh giá các điểm sau:
  • Vật liệu
  • Chất lượng thi công
  • Mức độ bảo trì
  • Hệ thống phòng hộ bảo vệ (như tường chắn sóng, đê)
  • Địa điểm
  • Thiết kế
Xác định tác động trong đánh giá quốc gia: Trong đánh giá quốc gia, tác động là tổng của mức độ hứng chịu xếp hạng từ 1-5 được xác định cho từng công trình năng lượng và từng mối đe dọa, còn độ nhạy cảm được tính điểm từ 1-5
1a
Hình 1: Tính toán xếp hạng tác động
Như vậy, tác động sẽ được xếp hạng từ 1-10, cho thấy mức đánh giá Rất thấp (1-2) đến Rất cao (9-10) như thể hiện trong ma trận tác động Hình 3‑3. Ma trận tác động đòi hỏi sự tham gia của các bên liên quan để: (i) xác định các công trình/hợp phần chính trong hệ thống bị đe dọa và (ii) những mối đe dọa khí hậu chính và được sử dụng làm định hướng xác định (iii) mức độ hứng chịu và (iv) mức độ nhạy cảm. Mức này được xác định sử dụng các thông tin dựa vào khoa học và được bổ sung với nhận định của chuyên gia. Bảng này cũng là một hướng dẫn về tác động dự báo cuối cùng của mối đe dọa đối với công trình khi đã đánh giá được mức độ hứng chịu và độ nhạy cảm.
Bảng 1: Ma trận tác động của BĐKH để đánh giá các mối đe dọa của BĐKH đối với hệ thống cấp quốc gia
Xác định Tính dễ bị tổn thương: Tính dễ bị tổn thương được xác định bằng cách cộng tác động với nghịch đảo của năng lực thích ứng. Năng lực thích ứng được hiểu là khả năng chuẩn bị cho mối đe dọa tương lai và trong quá trình đó sẽ gia tăng sức chống chịu và khả năng phục hồi sau tác động. Cụ thể là sẽ đánh giá:
  • Các công nghệ sẵn có
  • Nguồn cung nguyên vật liệu
  • Nguồn lực tài chính
  • Cán bộ và trình độ chuyên môn
  • Hệ thống quản lý
  • Chính sách và quy trình
Tính dễ bị tổn thương được tính theo tác động và năng lực thích ứng sử dụng ma trận về tính dễ bị tổn thương như Bảng 2 cho thấy. Mức điểm từ “rất thấp” đến “rất cao”, tương ứng với điểm của tác động và năng lực thích ứng, được lấy từ những kiến thức tốt nhất hiện có cùng với đánh giá của chuyên gia trong quá trình xây dựng phương pháp CAM, phương pháp đã được phát triển qua ứng dụng ở 13 nước khắp khu vực Châu Á – Thái Bình Dương từ năm 2006 và ở hơn 170 hệ thống khác nhau.
Bảng 2: Xác định Tính dễ bị tổn thương
1.1. Xác định các phương án thích ứng
1.1.1. Xác định các phương án thích ứng
Bước này bao gồm việc xây dựng một loạt các phương án lồng ghép các can thiệp thích ứng rồi làm việc cùng với các bên liên quan để xác định ưu tiên thích ứng (bước này là điểm lý tưởng để đồng bộ với các hoạt động giảm nhẹ). Việc lập kế hoạch và thực hiện các dự án thích ứng cần đồng bộ với cách thực hành quốc gia và quốc tế hiện có trong quy hoạch phát triển để hỗ trợ lồng ghép biến đổi khí hậu.
Công tác thích ứng tạo dựng sức chống chịu biến đổi khí hậu ở các cộng đồng, các ngành và các khu vực. Cơ hội tăng cường sức chống chịu (tức là để làm giảm tính dễ bị tổn thương) thông qua thích ứng có thể thấy trong các hệ thống tự nhiên, nhân tạo, xã hội, kinh tế và thể chế như:
  • Các biện pháp công trình (như đê phòng chống lũ lụt, tường chắn sóng và hệ thống thoát nước hiệu quả)
  • Chiến lược truyền thống địa phương (như làm ruộng bậc thang và lựa chọn cây trồng)
  • Ứng phó xã hội (như di dời tái định cư)
  • Quy hoạch sử dụng đất (ví dụ như phân vùng và kiểm soát phát triển xây dựng)
  • Các công cụ kinh tế (ví dụ như trợ cấp và khuyến khích về thuế)
  • Quản lý hệ thống tự nhiên (như phục hồi, bảo tồn, quản lý vùng đầu nguồn)
  • Các phương án thể chế: chính sách liên quan, đổi mới thể chế và hành chính.
Nói chung, biện pháp ứng phó hiệu quả đòi hỏi một bộ tích hợp các hành động thích ứng trong các lĩnh vực quản lý đó để chúng tăng cường cho nhau. Đồng thời cần phân tích xem hành động đó sẽ làm thay đổi tính dễ bị tổn thương như thế nào – hoặc là bằng cách giảm thiểu mức độ hứng chịu, hoặc giảm bớt độ nhạy cảm hay xây dựng năng lực thích ứng.
Việc liệt kê danh sách các phương án thích ứng đòi hỏi sự tham gia của nhiều chuyên gia liên ngành cũng như các đối tượng bị tác động – thông thường đó là việc xác định những gì đã có hiệu quả nhất trước đây cũng như học hỏi kinh nghiệm quốc tế.
1.1.2. Danh mục sơ bộ các phương án thích ứng
Việc đánh giá thích ứng được tiến hành để xác định các giải pháp đối với những mặt trọng yếu trong tính dễ bị tổn thương ở các công trình mục tiêu. Xuất phát điểm đối với những phương án thích ứng này liên quan tới các nguyên nhân về mức độ hứng chịu, độ nhạy cảm và năng lực thích ứng đã gắn với tính dễ bị tổn thương cao. Mục đích của đánh giá tính dễ bị tổn thương là mô tả một cách hệ thống mối đe dọa, mức độ hứng chịu, độ nhạy cảm, tác động và năng lực thích ứng của công trình hạ tầng đang nghiên cứu. Mối quan hệ và kết quả của từng giai đoạn trong quá trình đánh giá tính dễ bị tổn thương lúc đó sẽ cung cấp một loạt các xuất phát điểm cụ thể qua đó có thể xây dựng được danh mục sơ bộ đầy đủ các phương án thích ứng. Chẳng hạn, một thành phần trong độ nhạy cảm như thành phần nguyên vật liệu có thể là một điểm yếu của công trình và có thể tăng cường bằng một biện pháp thích ứng cụ thể.
1.1.3. Xây dựng danh mục các phương án lựa chọn ưu tiên
Sau đó, một số biện pháp sàng lọc được áp dụng để lọc danh mục sơ bộ các phương án thích ứng nhằm xác định ưu tiên và phân chia giai đoạn tối ưu cho triển khai thích ứng. Những biện pháp sàng lọc này bắt đầu với các cân nhắc cụ thể cho từng ngành, sau đó liên tục mở rộng ra các vấn đề rộng hơn, mang tính liên ngành cả về kinh tế lẫn sinh kế. Có 3 cấp độ sàng lọc trong quy trình CAM là:
Sàng lọc tính khả thi theo ngành: Danh mục sơ bộ các phương án thích ứng gồm danh sách đầy đủ các phương án khả dĩ về kĩ thuật nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu. Lúc đó, biện pháp sàng lọc đầu tiên và quan trọng là xem xét tính khả thi thực tế của việc áp dụng phương án thích ứng đối với một công trình cụ thể trong bối cảnh thể chế và sinh-vật lý cụ thể. Ví dụ, một số phương án có thể đòi hỏi kỹ thuật cao và rất phù hợp với công trình quốc gia nhưng không thực tế lắm đối với công trình cấp tỉnh quản lý do nguồn tài lực và nhân lực có thể khan hiếm. Một trọng tâm quan trọng khác trong công tác sàng lọc này là nhấn mạnh và phát huy những gì ngành đã có kinh nghiệm và hiểu rõ chúng sẽ hiệu quả. Ngoài ra, khi các ngành tiến hành xây dựng các kế hoạch hành động giảm nhẹ và thích ứng đồng bộ, công tác sàng lọc tính khả thi theo ngành này có thể được áp dụng để ưu tiên hóa các phương án thích ứng đó – một công việc cũng tạo ra ảnh hưởng tích cực trong việc giảm phát thải khí nhà kính.
Đánh giá Tác động Thích ứng (AIA): Như đã mô tả trong mục phương pháp, AIA giúp ngành “vượt rào” để không chỉ quan tâm đến ngành mình mà còn tiến hành lập kế hoạch và cân nhắc các tác động tích cực và tiêu cực của từng phương án tới các ngành khác cũng như động lực của việc sử dụng vùng đất xung quanh. Điều này rất quan trọng để đảm bảo làm sao biện pháp thích ứng chắc chắn cho ngành này không dẫn tới thích ứng sai trong ngành khác, và là một công cụ chuyển đổi quan trọng nhằm tích hợp toàn bộ quy hoạch không gian cho các tỉnh hoặc lưu vực sông.
Công cụ sàng lọc kinh tế đa tiêu chí: Giai đoạn cuối cùng trong việc xác định ưu tiên thích ứng là sử dụng một loạt các công cụ sàng lọc kinh tế xã hội để xác nhận lại các ưu tiên và gắn chúng với kế hoạch thực hiện và đầu tư. Ba công cụ được đề xuất trong mục phương pháp và trong Khung Lập kế hoạch Hành động do nhóm dự án TA này xây dựng; đó là: (a) Phân tích Chi phí-Lợi ích (CBA), (b) Phân tích đa tiêu chí, và (c) Phân tích Chi phí-Hiệu quả (CEA).
1.1.4. Xuất phát điểm của biện pháp thích ứng
Hạ tầng có vòng đời của các biện pháp thích ứng (Hình 2), bắt đầu bằng chiến lược, khung lập kế hoạch, thiết kế, thi công, vận hành, bảo trì và cải tạo hoặc chấm dứt vận hành. Để đảm bảo thích ứng có hiệu quả, xuất phát điểm chiến lược cho từng phương án cụ thể cần được xác định rõ ràng theo chu kỳ quy hoạch/lập kế hoạch của chính phủ. Trong Hình 2, các hộp bên ngoài liên quan tới công tác Lập và Thực hiện Kế hoạch Thích ứng, và cho thấy các xuất phát điểm tiềm năng của các phương án thích ứng với biến đổi khí hậu mà Dự án này có thể bắt đầu để đi vào vòng đời này. Ở cấp quy hoạch tổng thể, tiêu chuẩn kỹ thuật công nghệ thiết kế và thi công có thể được điều chỉnh nhằm tăng cường sức chống chịu khí hậu của hạ tầng.
Ở cấp chiến lược và quy hoạch, thích ứng có thể đổi mới tầm nhìn, tiêu chuẩn, quy trình, quy chế và cơ cấu hoạt động thể chế của một cơ quan. Mặc dù đây là cấp độ cao trong thích ứng, kinh nghiệm của nhóm dự án khi triển khai đánh giá tính dễ bị tổn thương và thích ứng (VA) cho thấy các phương án thích ứng cụ thể của Dự án thường cũng có thể áp dụng được cho các công trình khác nữa và do vậy có thể cung cấp thông tin và kết quả cho ứng phó ở cấp cao hơn như điều chỉnh tiêu chuẩn thiết kế.
Ở cấp quy hoạch, ngoài việc đổi mới và điều chỉnh chính các quy hoạch kế hoạch, xuất phát điểm trọng yếu cho thích ứng với biến đổi khí hậu là xúc tiến phương thức tích hợp không gian vào công tác quy hoạch/lập kế hoạch, trong đó việc xác định các điểm nóng và các đầu ra khác của quy trình VA được tiến hành để phân vùng địa lý cho các phương án phát triển phù hợp.
Ở cấp dự án, thích ứng với biến đổi khí hậu có thể được lồng ghép vào thiết kế dự án, thi công và Vận hành & Bảo trì (O&M) thông qua việc định hướng thiết kế chi tiết do dự án, giới thiệu các công nghệ mới và các phương thức bền vững hơn (ví dụ như phương thức cảnh quan và công nghệ sinh học để bảo vệ hạ tầng) cũng như đào tạo và nguồn lực tài chính nhằm tăng cường hiệu quả của O&M.
Hình 2: Xuất phát điểm cho các phương án thích ứng trong vòng đời dự án
congnghiepxanh.wordpress.com
Các tin tức khác
Xem các tin khác
Hồ chứa: 120
- Diện tích lưu vực: 370.33 (km2)
- Dung tích: 103.5/116.01 (106m3)
- Năng lực tưới: 7047.8/12586.5 (ha)

Đập dâng: 424
- Diện tích lưu vực: 4014.6 (km2)
- Dung tích: 375.3 (106m3)
- Năng lực tưới: 390853.97/537469.1 (ha)

Trạm bơm: 112
- Diện tích lưu vực: 0 (km2)
- Năng lực: 4966.53/10612 (ha)
- Lưu lượng cấp: 19510 (ha)
- Số máy bơm: 186 (máy)
Lượt truy cập: 133906
Đang trực tuyến: 7